THẤU HIỂU SỨC KHỎE BẢN THÂN THÔNG QUA KỴ THẦN, KHUYẾT MỆNH - BÁT TỰ HỌC

THẤU HIỂU SỨC KHỎE BẢN THÂN THÔNG QUA KỴ THẦN, KHUYẾT MỆNH - BÁT TỰ HỌC

THẤU HIỂU SỨC KHỎE BẢN THÂN THÔNG QUA KỴ THẦN, KHUYẾT MỆNH - BÁT TỰ HỌC - Phong thủy Thuận Minh : Chuyên Tư Vấn về mệnh lý - bát tự. Bố Trí Phong Thủy Nhà Ở, Kinh Doanh, Đầu Tư đưa ra nhận định phòng chống rủi ro tốt nhất.

Những yếu tố xem sức khỏe trong tứ trụ luận đoán

Giáp đởm, ất can, bính tiểu tràng

Đinh tâm, mậu tì, kỷ vị hương

Canh thị đại tràng, tân thuộc phế

Nhâm hệ bàng quang, quý thân tàng

Tam tiêu dịch hường nhâm trung ký

Bao lạc đồng quy nhập quý hương.

Ngũ hành của ngũ tạng

Can - mộc tâm - hỏa tỳ - thổ phế -kim thận - thủy

Khí mộc sinh phong, khí hỏa sinh nhiệt, khí thổ sinh táo, khí kim sinh hàn, khí thủy sinh ẩm.

Ngũ hành địa chi thông ngũ tạng

Khí thiên can là lục phủ thông cửu khiếu

Tứ trụ hành gì là nhiều nhất thì hành đó là kỵ thần, và hành nó khắc quá yếu thì bệnh liên quan đến hành đo. Chỗ nào bế, yếu thì chỗ đó bệnh.

 

 

1. TỨ TRỤ KỴ THẦN MỘC

Mộc quá vượng dễ bực dọc, mộc sinh hỏa vượng thì nóng giận cáu gắt, hoa mắt mặt đỏ. Can uât dễ bệnh tiêu hóa, can huyết hư: ngủ khó, ngủ không yên, đau khớp, gân, cơ.nhất là đầu gối. Móng tay liên quan đến  huyết, can thịnh mắt đỏ, can hư mắt khô giảm thị lực.

Can - Mộc quẻ chấn: chủ về sự chính chắn, can hư khó tập trung, phán đoán thiếu chính xác. 

Các bệnh liên quan khi mộc vượng, khuyết hoặc bị khắc chế:

Bộ phận liên quan trên cơ thể: hông sườn, bộ phận sinh dục, đỉnh đầu

Các bệnh liên quan đến: giận dữ, phong, sơ tiết, vận động

QUAN HỆ GIỮA CAN VỚI CÁC TẠNG PHỦ KHÁC

THẬN THỦY SINH CAN MỘC, CAN MỘC SINH TÂM HỎA

Thận thủy không sinh can mộc: trước thận âm hư sau can âm hư

Can mộc không sinh tâm hỏa: ngực đầy khí đoản, nhiệt huyết tâm thống, can khí hư sau đó xuất hiện tâm hỏa hư.

CAN MỘC KHẮC TỲ, PHẾ KHẮC CAN MỘC

Can khí mộc vượng khắc tỳ vị thì ăn uống nhiều dẫn đến tỳ hư. Can mộc nhược không muốn ăn.

Phế kim khắc can mộc: can hỏa quá vượng, hỏa hình kim hỏa gõ kim kêu nên xuất hiện ho khan ít đờm, mặt, mắt sưng đau có thể khạc ra máu.

CAN VÀ ĐỞM(QUẺ TỐN): CÒN GỌI LÀ MẬT cũng thuộc mộc

Can và đởm có quan hệ với nhau: cả hai  mạnh thì tinh thần sảng khoái, quyết đoán, rối loạn chức năng này dẫn đến mất ngủ, sợ sệt .

2.TỨ TRỤ KỴ THẦN HỎA:

Tâm Hỏa là quẻ LY: chủ về nóng sáng- là nơi xuất phát của Thần Minh, kiên cường bên ngoài nhưng yếu đuối bên trong.

Tâm khai khiếu ra lưỡi - chủ huyết mạch: tâm hỏa vượng thì hồi hộp, trống ngực đánh liên hồi, lo buồn quá độ.

Tâm khí hư thì sút kém, buồn bã, mất ngủ.Tâm biểu hiện ra đầu lưỡi: tâm hỏa nhiệt chót lưỡi đỏ, quá vượng loét,suy thì nhợt nhạc, nhiệt tà đốt lưỡi vẹo, ngọng.

CAN MỘC SINH TÂM HỎA TÂM HỎA SINH THỔ

Can mộc vượng sinh hỏa làm cho tâm hỏa càng thịnh

Mộc không sinh hỏa, can huyết hư, sau bệnh tâm huyết

Tâm hỏa không sinh thổ: tâm dương không đủ, sau đó tỳ mất kiện toàn

TÂM HỎA KHẮC PHẾ KIM, THỦY THẬN KHẮC TÂM HỎA.

Tâm hỏa quá thịnh đốt phế dẫn đến nhiệt

Thận âm thủy khắc hỏa nên thủy vượng sẽ làm hỏa lạnh. Thủy khuyết không khắc hỏa làm cho hỏa vượng quá.

VỚI TIÊU TRƯỞNG LÀ QUẺ CÀN:

Kiền là ánh sáng, ly là mặt trời, ánh sáng và mặt trời tự nhiên cùng xuất hiện do đó người xưa cho rằng tâm và tiêu trưởng cùng xuất hiện và có quan hệ lẫn nhau. Quẻ kiền cuối mùa thu là nơi âm dương tranh chấp ứng với tiêu trưởng là nơi tiếp nhận thức ăn làm cho chín nhừ sau đó phân chia rành rọt. Thanh là tân dịch   hấp thu vào các bộ phận, cuối cùng chuyển xuống bàng quang, trọc: cặn bã chuyển xuống đại tràng.

Hỏa quá vượng hoặc quá nhược rối loạn sẽ không phân biệt được mà dồn xuống đại tràng dẫn đến tiêu lõng. Sốt, cảm cúm, đau đầu cứng gáy.

Các bịnh của tâm hỏa vượng:  nói sảng, phát cuồng, không ngủ

Các bệnh khuyết tâm hỏa, hỏa nhược: đau tim đột ngột, chân tay lạnh

Bệnh của hỏa tiêu trường vượng: đau bụng xuyên xuống tinh hoàn, đái máu, đái đỏ, đau buốt khi đái

Bệnh của hỏa tiêu trưởng khuyết hoặc nhược: đái nhiều lần, đái són, đau bụng dưới, ỉa chảy.

 3.TỨ TRỤ KỴ THẦN THỔ TỲ

 Tỳ cũng như đất có chức năng nuôi dưỡng các tạng phủ khác.

Tỳ chức năng hấp thu và vận chuyển chất dinh dưỡng cho cơ thể. Công năng của tỳ là KIẾN VẬN. Sự kiện vận của tỳ là nguồn gốc sinh ra khí và huyết. Tỳ là Sinh và thống huyết, nghĩa là quản lý khống chế huyết, tỳ khí mạnh huyết sẽ đi trong mạch máu, và được khí đẩy đi nuôi dưỡng khắp cơ thể.

Trong tứ trụ thổ quá vượng, hoặc quá nhược sẽ làm rối loạn chức năng này dẫn đến:

sinh huyết dẫn đến thiếu máu, kinh ít, vô kinh

Thống nhiếp huyết dẫn đến xuất huyết dưới da, rong kinh, rong huyết.

Vị làm nhừ tiểu trường Tỳ (chọn lọc chất ) phế (đưa vào huyết mạch)Tâm đẩy huyết.

4.

QUAN HỆ VỚI CÁC HÀNH KHÁC TRONG CÁC TẠNG KHÁC.

Tâm hỏa- sinh tỳ thổ tỳ thổ sinh kim phế

Trong tứ trụ khuyết hỏa, hỏa quá nhược không sinh được tỳ thổ thì trước tâm hỏa hư, sau tỳ thổ hư dẫn đến không chức năng kiện vận rối loạn.

Mệnh khuyết thổ, trước tỳ thổ bệnh sau đó xuất hiện thận hư.

QUAN HỆ VỚI VỊ

Tỳ thổ, vị cũng là thổ tỳ, vị có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Tạng tỳ là tượng quẻ khôn, phủ vị là tượng quẻ cấn, núi do đất biến động thành nên nó có quan hệ biểu lý. Vị nhóm chứa thức ăn, ngũ cốc thu nhận tiêu hóa thức ăn dưới sự điều khiển của tỵ. Thổ tỵ rối loạn dẫn đến đau thượng vị, ói mủa, ợ chua.

Triệu chứng rối loạn thổ có thể ảnh hướng đến tỵ cụ thể như sau: thực- khí tích, bụng đầy đau, hư- sắc mặt vàng xám, mệt mỏi tiêu chảy, nhiệt - môi đỏ, chốc mép, hàn - ăn không tiêu, chân tay lạnh

Triệu chứng rối loạn thổ ảnh hưởng đến chức năng vị: thực - ợ chua, đại tiện kết, hư - môi lưỡi nhạt, không muốn ăn, nhiệt - lợi sưng, loét miệng. Hàn - dạ dày đau âm ỉ, mạch trầm trì thích nóng.

4. TỨ TRỤ KIM PHẾ QUÁ VƯỢNG HOẶC QUÁ NHƯỢC

Phế khai khiếu ra mũi.

- Phế là quẻ đoài. Đoài tượng trưng cho ao hồ, đem lại sự tươi mát để điều hòa sự hanh khô, phế chủ về bì mao, điều hòa bên trong cơ thể. Tứ trụ vượng kim, nhược kim hoặc khuyết kim sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với chức năng của Phế.

- Khí trong cơ thể bao gồm có hai loại:

1.Từ tinh khí của đồ ăn do tỳ mạch vận chuyển dần lên phế

2.Từ khí trời vào cơ thể qua phế

- Cả hai chứa trong lòng ngực gọi là tông khí. Do đó phủ chủ về hô hấp cho toàn bộ khí trên dưới và ngoài cơ thể.

 Do đó kim phế trong bát tự quá vượng rất dễ dẫn đến ho, khó thở, suyễn, thiếu hơi, đoản khí.

- Khí huyết có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự vận hành của huyết do tâm chủ trì, nhưng phải nhờ vào khí của phế, khí toàn thân tuy do phế làm chủ nhưng phải nhờ vào sự vận hành của huyết mới có thể thông đạt khắp châu thân. Phế rối loạn sẽ dẫn đến thiếu máu trong những trường hợp suy nhược.

- Quan hệ của khí với bì mao. Khí môn hay còn gọi là lỗ chân lông, cửa ra vào của khí, giúp cơ thể thích nghi với thay đổi của ngoại giới. Da lông là phần ngoài của cơ thể, tiếp xúc trực tiếp với môi trường, giúp phế thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể.

- Nước qua vị, tinh khí của nước qua sự vận chuyển của tỳ lên đến phế kim làm chức năng túc giáng để thủy dịch theo đường thủy đạo tam tiêu đi khắp nơi và xuống bàng quang.

QUAN HỆ VỚI CÁC TẠNG PHỦ KHÁC:

+TỲ THỔ SINH KIM PHỔI, KIM PHỔI SINH THỦY THÂN

1. Tỳ thổ sinh kim:

- Nếu trong tứ trụ thổ quá vượng hoặc khuyết sẽ ảnh hưởng đến chức năng của kim phổi. Trước có chứng tỳ vị hư nhược, sau xuất hiện chứng phế hư

Phế kim sinh thủy thận

- Kim phế trong tứ trụ khuyết hoặc nhược trước là phế hư sau đó có chứng thận âm không đủ.

+ KIM PHẾ KHẮC MỘC, TÂM HỎA KHẮC KIM

 kim phế khắc can mộc:

- Phế Kim quá vượng sẽ khắc can mộc trước sẽ có chứng phế thực, sau có chứng can khí uất trệ.

Can hỏa khắc kim:

Hỏa trong tứ trụ quá vượng: trước có chứng can hỏa bốc lên, rồi sau xuất hiện chứng phế nhiệt, gọi là mộc hỏa hình kim.

5. TỨ TRỤ QUÁ VƯỢNG VÀ NHƯỢC THỦY SẼ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỨC NĂNG CỦA THẬN

- Thận là quẻ khảm biểu tượng là nước.

- Khai khiếu ra tai

- Mọi sự sống đều bắt đầu từ nước. Trong cơ thể con người thận là nguồn gốc của sự sống trong cơ thể. Con người sinh ra nhờ khí tiên thiên mà sống và phát triển, do đó thận chủ tiên thiên.

¥ Thận vừa là chân âm vừa là chân dương:

- Chân âm chủ thủy: dịch thể trong con người do thận quyết định, chất thủy dịch nhập vào từ vị, chuyển hóa nhờ tỳ, tàng chứa và phân phối nhờ thận. Rối loạn chức năng này sẽ bị Phù thũng.

- Mệnh môn hỏa: nguồn suối nhiệt, nguồn năng lượng đảm bảo cho sự sống còn, cho hoạt động ở nơi thận hỏa. Dương khí dồi dào, tinh lực đầy đủ là nhờ chân hỏa sung mãn. Chức năng này rối loạn dẫn đến tay chân lạnh, mệt mỏi, không có sinh lực.

- Tàng tinh ảnh hưởng đến sinh dục, thận tinh và thận khí quyết định sự phát dục và sinh dục của cơ thể con người.

Nữ bội số 7, nam bội số 8.

- Chủ về cốt tủy: thận tạng tinh, tinh có thể sinh ra ở tủy. Tủy chứa trong các khoảng rộng của xương, có tác dụng nuôi dưỡng xương. Thận sinh tủy, tủy sinh xương, não là bể chứa tủy, thận sinh tủy, sự thịnh suy của tinh khí chứa trong thận, ảnh hưởng trực tiếp đến công năng của não.

Rối loạn chức năng này: tóc khô, tai ù, răng lung lay.

Thận hư não chậm phát triển đần độn kém thông minh

Não là bể của tủy bể thủy không đủ choáng váng, hay quên.

QUAN HỆ VỚI CÁC TẠNG KHÁC:

THẬN THỦY SINH CAN MỘC, KIM PHẾ SINH THẬN THỦY

Trong tứ trụ khuyết thủy sẽ dễ dẫn đến rối loạn chức năng thận ảnh hưởng đến can mộc, trước có chứng thận hư, sau có chứng can hư.

Trong tứ trụ khuyết kim: không thể sinh thủy trước rối loạn phổi sau rối loạn thủy.

Thủy thận khắc tâm hỏa, thổ tỳ khắc thủy thận:

Thủy quá vượng trước có chứng thận hàn, sau có chứng dương hư thành chứng tâm thận dương hư

Thổ tỳ khắc thủy Trước có bệnh ở tỳ, sau xuất hiện chứng thận hư.

 

 

 

 

 

 

 


 

Giao hàng Giao hàng toàn quốc Thời gian giao từ 3-6 ngày
Thanh toán Thanh toán dễ dàng Thanh toán khi nhận hàng
Đổi trả hàng Đổi và trả hàng Thời gian đổi trả lên đến 7 ngày

Đăng ký nhận tin

Cập nhật thông tin khuyến mại nhanh nhất, Hưởng quyền lợi giảm giá đặc biệt